Tử Vi

LUẬN VỀ CÁC SAO

27-11-2019 3358
0 /5 của 0 đánh giá

A- CÁC LOẠI SAO TRONG KHOA TỬ VI

 Khoa Tử vi có 5 loại sao dưới đây đáng được phân biệt:

 - Chính tinh (còn gọi là chính diệu). 

- Phụ tinh (còn gọi là bàng tinh). 

- Sao chủ mệnh. 

- Sao chủ thân.

 - Sao lưu động. 

Tổng cộng có khoảng 110 vì sao cố định.

B- PHÂN LOẠI Ý NGHĨA CÁC SAO

Dù là chính hay phụ tinh, cố định hay lưu động, chủ Mệnh hay chủ Thân, mỗi sao đều có ý nghĩa trên nhiều phương diện. Đại loại có thể có những ý nghĩa sau:

 1) Ý nghĩa cơ thể (signification anatomique): đó là ý nghĩa liên hệ đến một hay nhiều bộ phận trong cơ thể con người.

Ví dụ: Thiên mã chỉ chân tay, Hóa lộc chỉ râu, Vũ khúc chỉ vú, Kình dương chỉ dương vật, Thiên đồng chỉ bộ máy tiêu hóa…

2) Ý nghĩa tướng mạo (signification morphologique): đó là ý nghĩa về hình tướng, sắc diện, nhan sắc bên ngoài, dáng mạo, dung nhan.

Ví dụ: Văn Xương, Văn Khúc đắc địa là tướng khôi ngô, dung nhan đẹp đẽ.

3) Ý nghĩa bệnh lý (signification pathologique): đây là những bệnh hay tật cơ hữu mà mỗi sao mang lại cho cơ thể hay một bộ phận cơ thể.

Ví dụ: Địa Không, Địa Kiếp chỉ sự đau phổi hay mụn nhọt chốc lở; Tang Hổ, Khốc Hư chỉ tê thấp, yếu tim, thiếu máu.

4) Ý nghĩa tính tình (signification caractérologique): nói lên tâm tính công khai hay uẩn khúc, tâm địa, tâm trạng, sở thích, sở ố...

Ví dụ: Đào Hoa chủ sự trăng hoa, ong bướm, đa tình; Thiên Riêu chủ sự dâm dục; Quan Phù chỉ sự thù dai; Tràng Sinh chỉ sự quảng đại.

5) Ý nghĩa nghề nghiệp (signification professionnelle): liên quan đến năng khiếu (aptitude), tài năng, khả năng (talent, capacité), nghề nghiệp (profession), chí hướng (aspiration)...

Ví dụ: Thiên Tướng cùng Thiên Y là bác sĩ, Hóa Khoa, Tấu Thư và Xương Khúc là giáo sư, Sát Phá Liêm Tham là quân nhân.

6) Ý nghĩa tài lộc (signification financière): liên quan đến tiền bạc, của chìm, của nối, sự nghiệp mình tạo được, những hên hay xui về tiền bạc...

Ví dụ: Hóa Lộc hay lộc Tồn chỉ sự đắc tài, đắc lộc; Đẩu Quân chỉ sự giữ của…

7) Ý nghĩa điền sản (signification mobilière): liên quan đến tài sản bất động (nhà cửa, ruộng đất).

Ví dụ: Thái Âm và Thai Tọa là có nhà, đất nhiều. 

 8) Ý nghĩa phúc thọ (signification relative au bonheur ou au malheur): liên quan đến sự thọ yểu, sự tự tán, sự thịnh suy của gia đình, của họ tộc, đồng thời cũng liên quan đến tai họa hay may mắn cho đương sự và cho dòng họ.

 Ví dụ: cung Phúc có Âm, Dương hãm chiếu thì dòng họ cận thị; có Đào, Hồng, Không, Kiếp là có nhiều phụ nữ cao số, trắc trở chồng con. Sao Phục Binh chỉ sự mất trộm, Thiên Mã gặp Kình Đà chỉ tai nạn xe cộ...

9) Ý nghĩa vật dụng:

 Có một số sao chỉ đồ vật, gia súc dùng trong nhà hay thức ăn, thức uống, đồ tăng chế.

Ví dụ: Thiên y là quần áo, Thiên mã là xe cộ hay gia cầm, Tham lang là thịt, Đào hoa là rượu chè hoa quả...

  Cần lưu ý là không phải bất cứ sao nào cũng có 9 loại ý nghĩa trên. Thông thường, mỗi sao chỉ có vài loại nghĩa và thường nặng về một loại ý nghĩa nổi bật nhất. Đặc tính nổi bật này cũng không nhất thiết giống nơi mỗi cá nhân, mà còn bị gia giảm về cường độ, tùy theo sự hội tụ với các sao đồng nghĩa hay chế khắc. Vì vậy, sự liệt kê các ý nghĩa của mỗi sao trong phần định nghĩa các vì sao chỉ có tính cách hướng dẫn. Người luận đoán vẫn phải linh động lựa chọn một số ý nghĩa thích hợp của một sao cho một người.

C- TƯƠNG QUAN GIÁ TRỊ GIỮA CÁC LOẠI SAO

 Mặc dù mỗi loại sao có ý nghĩa riêng biệt, nhưng thông thường, chính tinh được xem như quan trọng hơn những sao khác. Một chính tinh đắc địa có thể giảm tác họa của nhiều phụ tinh hãm địa. Ngược lại, một chính tinh hãm địa lại cần có sự hội tụ của nhiều phụ tinh sáng sủa mới phục hồi lại ít nhiều sức sáng.

   Tuy nhiên, riêng đối với hai sao Tuần, Triệt, hai sao này có tác dụng chế hóa cả chính tỉnh lẫn phụ tinh, không kể số lượng các sao bị chế hóa.

   Sao chủ Mệnh và sao chủ Thân là hai sao phải được quan tâm khi luận đoán lá số của mỗi người. Sách VỞ đều không đề cập đến tương quan giữa hai sao này với các sao khác cũng như tương quan giữa hai sao này với nhau. Ngoài ra, vị trí hai sao này đều được ghi ở địa bàn (khoảng giữa lá số), như vậy, tất sẽ không bị Tuần Triệt ảnh hưởng. Dù sao, hai sao này có lẽ chỉ nên xem như bổ túc cho các sao khác thủ Mệnh, Thân... và được giải đoán trong khuôn khổ sự hội tụ với các sao khác.

Sao lưu động chỉ có giá trị lúc giải đoán hạn từng năm một, vấn trong bối cảnh các sao khác của năm đó.

D- ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ HỘI TỤ, I SỰ THẤT TÁN CỦA CÁC SAO

Nói chung, các sao tốt và đắc địa cảng hội tụ nhiều vào các cung quan trọng của lá số thì càng làm cho số đó vượng lên.

 Ngược lại, các cung quan trọng mà bị hung tinh xâm phạm thì bị suy giảm giá trị nhiều.

Nhưng, không bao giờ gặp trường hợp giản dị kể trên. Thông thường, cát tình trộn lẫn với hung tinh, nên đòi hỏi sự cân nhắc, chế hóa theo số lượng mỗi loại và đặc tính nặng nhẹ của mỗi sao, chưa kể ảnh hưởng của ngũ hành.

  Tọa thủ tại cung nào, một sao, dù là cát hay hung tinh đều tỏa ảnh hưởng đều khắp trên các sao đồng cung, xung chiếu và hợp chiếu, chứ không phải chỉ ảnh hưởng đến các sao đồng cung mà thôi. Thành thử, khi cân nhắc ý nghĩa và hiệu lực của một sao, bao giờ cũng phải cân nhắc trong bối cảnh hội tụ các sao đồng cung, xung chiếu và hợp chiếu. 

  Ngoài ảnh hưởng hỗ tương giữa hai sao, còn có ảnh hưởng tập đoàn của những cát tinh và của những hung tinh. Kết luận giải đoán sau cùng chỉ có thể diễn đạt sau khi cân nhắc tác dụng hỗ tương của ảnh hưởng tập đoàn này.

  Trong các vì sao, có những sao đi đôi Với nhau thành bộ. Ví dụ: Xương-Khúc, Long-Phượng, Quang-Quý, Thai Tọa, Tả-Hữu, hay Không-Kiếp, Hỏa-Linh. Nếu những bộ này đồng cung, ý nghĩa càng mạnh hơn là đối với một sao đơn lẻ hay bộ sao hội chiếu.

  Trong một ý nghĩa rộng hơn, hội tụ còn bao hàm sự tiếp giáp. Đó là trường hợp Khoa-Quyền-Lộc tiếp giáp Mệnh hay Thân, hay Không-Kiếp, Kình-Đà giáp Mệnh, Thân. Gặp trường hợp này, hiệu lực của sao tiếp giáp cũng phải được quan tâm trong bối cảnh của các sao đồng cung, hợp chiếu và xung chiếu.

E- ẢNH HƯỞNG CÁC SAO TÙY THEO VỊ TRÍ 

   Mỗi sao đều có vị trí đắc địa hay hãm địa riêng biệt. Đối với sao đắc địa, cũng có nhiều cường độ đắc địa, từ miếu, vượng cho đến đắc địa hay bình hòa.

Ngoài ra, vị trí đắc địa của một sao cũng tùy thuộc vào cung tọa thủ thuộc về ban ngày hay ban đêm.

  Mặt khác, ảnh hưởng của một sao cũng còn lệ thuộc vào hành của sao đó đối với hành của cung tọa thủ, cũng như hành của sao đó đối với hành của các sao khác đồng 

cung. Có tác giả đi xa hơn nữa để cân nhắc cả hành của sao trong một cung với hành của các sao khác xung chiếu hay hợp chiếu.

  Chẳng những vậy, tùy theo tính chất chủ yếu của mỗi sao, có những vị trí đặc biệt thích hợp cho sao đó. Ví dụ như sao Hóa Lộc đóng ở cung Tài, Hóa Quyền đóng ở cung Quan, Thái Âm đóng ở cung Điền, Vũ Khúc đóng ở cung Tài... được xem là hợp vị trí, đóng đúng chỗ, dù đối với cung tọa thủ, sao đó có thể hãm địa.

  Các sao tọa thủ ở cung nào ảnh hưởng đến cung đó mạnh hơn các sao chiếu vào cung đó.

  Giữa các sao chiếu vào một cung, các sao xung chiếu có hiệu lực mạnh hơn các sao bàng chiếu và hợp chiếu.

  Do đó, cần cân nhắc kỹ vị trí các sao tọa thủ, chính chiếu hay hợp chiếu, để xác định ảnh hưởng một cách cụ thể hơn và tinh vi hơn.

  Ngoài ra, các sao giáp cung cũng có liên hệ ít nhiều đến cung đó, từ đó, vị trí của các sao giáp có ảnh hưởng ít nhiều đến sự luận đoán.

F- ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC SAO QUA THỜI GIAN

Tử vi học là một khoa rất vi diệu, quan tâm đến dịch lý của mỗi sao tức là hiệu lực của sao đó trong thời gian và trong sự chi phối với các sao khác ở các cung liên hệ - Môi sao có ý nghĩa rất linh động vì lẽ:

1) Ý nghĩa linh động đó bắt nguồn ở vị trí của nó tại mỗi cung. Ví dụ sao Hóa Lộc đóng ở Mệnh có ý nghĩa khác hơn đóng ở Tài hay ở Quan. Và nếu: Hoa Lộc nằm ở một cung hạn thì chỉ có giá trị trong hạn đó.

2) Ý nghĩa linh động tùy theo thời gian. Ví dụ như sao

Đào và sao Hồng có giá trị rất mạnh lúc niên thiếu, và mất dần giá trị khi càng lớn tuổi.

Sao Không, sao Kiếp càng về già càng bất lợi hơn.

   3) Sự linh động còn tùy sự hội tụ, sự tương hợp hay tương khắc với ngũ hành các sao và các cung.

   Cho nên, khảo sát Tử vi không bao giờ nên đóng khung ý nghĩa một sao trong các đặc tính cố hữu của nó. Trái lại, phải quan niệm nó trong bối cảnh chung với các sao, với các cung, Với ngũ hành, với thời gian. Có như vậy, sự giải đoán mới sống động diễn đạt được sự biến thể, cắt nghĩa được nguyên nhân, suy ra được những thăng trầm của vận mệnh, những diễn biến của tính tình, của sự vật, của ngoại cảnh. Chính ý niệm linh động này mới là linh hồn của sự giải đoán vận mệnh. Nếu không quan tâm đến dịch lý của các sao, tác giả sẽ bị đóng khung và đóng khung vận mệnh, tính tình con người vào một số đặc tính và thời hạn được tiên thiên ngộ nhận như bất di bất dịch.

Sau cùng, cũng nên lưu ý rằng các sao được chia làm nam đẩu và bắc đẩu. Những sao nam đẩu sẽ ảnh hưởng mạnh trong phân nửa thời gian sau, những sao bắc đẩu, phân nửa thời gian đầu. Trong trường hợp một cung hội cả nam lẫn bắc đẩu thì sẽ ảnh hưởng toàn thời gian (10 năm, 1 năm tròn). Nếu gặp Tuần hay Triệt án ngữ, thời hạn ảnh hưởng sẽ bị đảo ngược, trước thành sau, sau thành trước.

G- TRƯỜNG HỢP VÔ CHÍNH DIỆU

Đó là trường hợp một cung không có chính tinh tọa thủ. Nói một cách tổng quát, chính tinh tọa thủ tại cung nào thì mới ban cho cung đó đặc tính nổi bật https://xoso888.com/, có hiệu lực như một sự phù trì. Thiếu chính tinh, cung đó có thể ví như thiếu chỉ đạo, bị ảnh hưởng rất mạnh của các cung ngoại cảnh, 

như một người bị chi phối bởi nhiều xu hướng, một thuyền bị bồng bềnh trước các ngọn gió lốc. Nói chung và tiên quyết, thì trường hợp vô chính diệu không tốt bằng có chính diệu. Do đó, để cân bằng trở lực này, cũng vô chính diệu cần có Tuần, Triệt án ngữ để chế ngự sự bất lợi.

  Nếu được Thiên Không, Địa Không hợp chiếu nữa thì rất đẹp. Càng rực rỡ hơn nếu gặp Nhật, Nguyệt sáng sủa xung chiếu hay hội chiếu.

  Trường hợp cung vô chính diệu được Tuần, Triệt, Thiên, Địa Không chiếu hay án ngữ thì gọi là cô chính diệu đắc tứ Không, hay tam nhị Không. Sao không vong càng nhiều càng làm cho cung đó thịnh lên.

  Trường hợp được Âm Dương hội chiếu được gọi là Âm Dương chiếu hư vô (cả mặt trời lẫn mặt trăng chiếu vào cõi vô cực, ánh sáng không bị ngăn chặn).

  Vốn chịu ảnh hưởng của ngoại cung, cung vô chính diện được chính tinh tốt chiếu vào tất thịnh đạt hơn là chính tinh hãm chiếu vào. Có sách cho rằng, đối với cung vô chính diệu, phải xem chính diệu xung chiếu như chính diệu tọa thủ. Điều này không có nghĩa là dời chính tinh xung chiếu vào cung vô chính diệu, mà chỉ có nghĩa là phải giải đoán cung vô chính diệu bằng chính tinh xung chiếu mà thôi.  Nếu chính tinh xung chiếu tốt, thì giải đoán tốt, xấu thì đoán ngược lại. Ví dụ:

  Cung Tý vô chính diệu được Thái Âm ở Ngọ xung chiếu. Ở Ngọ, Thái Âm vốn hãm địa, tất phải tỏa ảnh hưởng xấu cho cung Tý. Ngược lại, nếu Thái Dương ở Ngọ, thì nhất định cung vô chính diệu được tốt. Không bao giờ đem Thái Âm từ Ngọ xuống Tý hay Thái Dương từ Ngọ xuống Tý. 







TIN TỨC LIÊN QUAN
QUY TẮC LUẬN ĐOÁN LÁ SỐ
05/12/2019 1981
Luận đoán lá số là tìm trong tương quan giữa các cung, các sao, bản mệnh, cục, cách những chi tiết về phúc đức, cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái, bản tính, nghề nghiệp, tài sản, bạn bè, xã hội, bệnh tật, tai họa, biến cố lớn trong đời người, các giai đoạn thịnh suy, cái chết... 
LUẬN VỀ ÂM DƯƠNG NGŨ HÀNH
25/11/2019 9470
  Là một sản phẩm của văn hóa Trung Quốc, khoa Tử vi thoát thai từ triết học Trung Quốc, cụ thể là Kinh Dịch.
Ngũ hành can chi: những yếu tố cơ bản của phong thủy
12/09/2019 3209
Đừng bỏ qua chia sẻ trong bài viết này để biết rõ những yếu tố cơ bản của phong thủy là gì bạn nhé. Gợi mở từ các chuyên gia phong thủy mà chúng tôi sẽ giúp ích cho quý vị đáng kể đấy!
ads